57. Thiên Y Thánh Mẫu Sớ

 

Nguyên văn:

 

敕撰祝嘏幷普願等意在惠南殿供聖疏

天依聖母

 

伏以

寒宮兔月、人間炤徹以無私、篆猊雲、聖上遙通而有應、虔伸禮懇、式表齋誠。拜疏爲

大南國皇城內長寧宮齋主今朝皇太妃揚氏...法名...恭詣玉盞山惠南殿獻供祝壽延齡迎祥集福事。惟日仰干

聖眼、俯鑒微誠。

今齋主言念、生逢盛世、位顯金門、福基固集禎祥、毎賴天慈之保定、命座康强廸吉、全憑聖德以扶持、欲冀延齡、必蒙加祐。兹者春天佳節、仲月良辰、廼仙婆降誕之期、依齋主祈安之日、恭臨寶殿、虔薰一篆之眞香、淨設金盤、奉上七花之妙供、仰靈霄之玄鑒、資藥樹于丹忱。今則謹具疏章和南拜奏

弘惠普濟靈應妙通默相莊嚴玉盞天依阿那演王妃上等神。

伏願、德大乾坤、明同日月、俾齋主生生長享無爲、世世常圓勝福、仙祺疊紀、鶴算添齡。

恭祝、當今皇帝阮福...法名...壽愷凝祺、蕩平錫福、永綏景貺、長衍修齡、普及臣民、均霑餘慶、風雨若而氣調辰豫、氛浸清而內晏外寧、三登曰平、共樂春臺壽域、萬年弗替、長延火鼎金甌、更冀皇太子阮福...賜福壽以延長、述鴻勳之遠大。寔賴

聖慈之嘉惠也。謹疏。

 

Phiên âm:

 

Sắc Soạn Chúc Hỗ1 Tinh Phổ Nguyện Đẳng Ý

Tại Huệ Nam Điện2 Cúng Thánh Sớ

 

THIÊN Y THÁNH MẪU SỚ

 

Phục dĩ:

Hàn Cung3 thố nguyệt,4 nhân gian chiếu triệt dĩ vô tư; nhiệt triện nghê vân,5 Thánh thượng diêu thông nhi hữu ứng, kiền thân lễ khẩn, thức biểu trai thành.

Bái sớ vị: Đại Nam Quốc Hoàng Thành Nội Trường Ninh Cung, trai chủ kim triều Hoàng Thái Phi Dương Thị … Pháp danh … cung nghệ Ngọc Trản Sơn Huệ Nam Điện hiến cúng chúc thọ diên linh nghinh tường tập phước sự. Duy nhật ngưỡng can Thánh nhãn phủ giám vi thành.

Kim trai chủ ngôn niệm: Sanh phùng thạnh thế, vị hiển kim môn; phước cơ cố tập trinh tường, mỗi lại thiên từ chi bảo định; mạng tọa khang cường địch cát, toàn bằng Thánh đức dĩ phò trì; dục kí diên linh, tất mông gia hựu. Tư giả Xuân thiên giai tiết, trọng nguyệt lương thần; nãi Tiên Bà giáng đản chi kỳ, y trai chủ kỳ an chi nhật; cung lâm bảo điện, kiền huân nhất triện chi chơn hương; tịnh thiết kim bàn, phụng thượng Thất Hoa chi diệu cúng; ngưỡng linh tiêu6 chi huyền giám, tư dược thọ vu đơn thầm. Kim tắc cẩn cụ sớ chương hòa nam bái tấu:

Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Ứng Diệu Thông Mặc Tướng Trang Nghiêm Ngọc Trản Thiên Y A Na7Diễn Vương Phi Thượng Đẳng Thần.

Phục nguyện: Đức đại càn khôn, minh đồng nhật nguyệt; tỷ trai chủ sanh sanh trường hưởng vô vi, thế thế thường viên thắng phước; tiên kì điệp kỷ, hạc toán thiêm linh.

Cung chúc: Đương kim Hoàng Đế Nguyễn Phúc … Pháp danh … thọ khải ngưng kì, đãng bình tích phước; vĩnh tuy cảnh huống, trường diễn tu linh; phổ cập thần dân, quân triêm dư khánh; phong vũ nhược nhi khí điều thần dự, khí xâm thanh nhi nội yến ngoại ninh; Tam Đăng8 viết bình, cọng lạc Xuân đài thọ vức; vạn niên phất thệ, trường diên hỏa đỉnh kim âu,9 cánh kí Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc… tứ phước thọ dĩ diên trường, thuật hồng huân chi viễn đại. Thật lại Thánh từ chi gia huệ dã. Cẩn sớ.

 

Dịch nghĩa:

Sớ cúng Thánh tại Điện Huệ Nam với ý chúc thọ và phổ nguyện

được soạn theo sắc chỉ nhà vua

 

SỚ CÚNG THIÊN Y THÁNH MẪU

 

Cúi nghĩ:

Cung Hàn chú Cuội, nhân gian chiếu rọi thảy vô tư; tỏa rực cầu vồng, Thánh cõi xa thông mà có ứng; kính bày lễ bạc, tỏ chút tâm thành.

Sớ tâu: Việc trai chủ Hoàng Thái Phi Dương Thị … Pháp danh … của triều đình hiện tại ở Trường Ninh Cung Hoàng Thành Nội nước Đại Nam, thành kính đến Điện Huệ Nam tại Ngọc Trản Sơn dâng cúng chúc thọ thêm tuổi đón lành gom phước. Hôm nay ngưỡng trông mắt Thánh, cúi chứng tấc thành.

Nay trai chủ nép nghĩ: Sanh vào đời thịnh, phẩm vị cao sang; nền phước vững tập nơi tốt lành, luôn cậy trời thương cho ổn định; mạng vận an khang phúc đến, đều nhờ đức Thánh thảy phò trì; muốn được sống lâu, tất mong gia hộ. Nay lúc trời Xuân tiết tốt, giữa tháng giờ lành; ấy Tiên Bà đản sanh thời kỳ, nương trai chủ cầu an ngày tốt; đến nơi điện báu, kính xông một nén ấy chơn hương; thiết dọn mâm vàng, dâng lên Bảy Hoa bao món cúng; ngưỡng trời cao thầm chứng giám, ban cây thuốc thỏa tấc thành. Nay tất kính đủ sớ chương, kính thành tâu lạy:

Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Ứng Diệu Thông Mặc Tướng Trang Nghiêm Ngọc Trản Thiên Y A Na Diễn Vương Phi Thượng Đẳng Thần.

Cúi mong: Đức lớn càn khôn, sáng cùng nhật nguyệt; khiến trai chủ đời đời luôn hưởng vô vi, kiếp kiếp thường tròn phước cả; an lành chồng chất, tuổi thọ tăng thêm.

  1. chúc: Đương kim Hoàng Đế Nguyễn Phúc … pháp danh …, vui thọ an khang, bình thản ban phước; mãi yên ngưỡng mộ, tuổi thọ dài lâu; khắp đến thần dân, thấm nhuần phúc khánh; mưa gió thuận mà khí điều vui vẻ, khí thanh bình mà trong ổn ngoài yên; thiên hạ thái bình, cùng hưởng mùa Xuân cõi thọ; muôn năm trường cửu, dài lâu rực rỡ cơ đồ; lại mong Hoàng Thái Tử Nguyễn Phúc … ban phước thọ được lâu dài, hiển công trạng thật to lớn. Ngưỡng lạy Thánh từ ban cho ân huệ. Kính dâng sớ.

 

Chú thích:

  1. Chúc hỗ (祝嘏): chúc phúc, chúc mừng lễ thọ, phần lớn dùng cho tầng lớp Hoàng thất, quý tộc, v.v. Như trong Thanh Sử Cảo (清史稿), phần Đức Tông Kỷ (德宗紀), có đoạn: “Dụ bổn niên Vạn Thọ vô dong cáo tế, đình thăng điện lễ, miễn các tỉnh văn võ đại viên lai kinh chúc hỗ (諭本年萬壽毋庸告祭停升殿禮免各省文武大員來京祝嘏, [vua ban] hiểu dụ rằng lễ Vạn Thọ năm nay chớ dùng cáo tế, đình chỉ việc lên điện lễ bái, miễn cho quan viên văn võ các tỉnh về kinh chúc thọ).” Hay trong tác phẩm Đối Sơn Dư Mặc (對山餘墨), chương Mỗ Công Tử (某公子), của Mao Tường Lân (毛祥麟, ?-?) nhà Thanh, cũng có câu: “Thám tri công tử đản thần, đặc lai chúc hỗ (探知公子誕辰特來祝嘏, hỏi thăm biết sinh nhật công tử, tôi đặc biệt đến chúc mừng thọ).” Hoặc trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục Tục Biên (淨土聖賢錄續編, Tục Tạng Kinh Vol. 78, No. 1550) quyển 4, phần Lục An Nhân (陸安人), lại có đoạn: “Tứ tuần sinh nhật, hựu ư Sư Lâm Tự cúng phạn tăng, thân hữu chúc hỗ giả, dĩ sở phán Pháp Hoa, Hoa Nghiêm đẳng kinh thí tặng (四旬生日又於師林寺供飯僧親友祝嘏者以所刊法華華嚴等經施贈, vào ngày sinh nhật bốn mươi tuổi, ông lại cúng dường trai tăng tại Sư Lâm Tự, thân hữu đến chúc mừng thọ, lấy các kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, v.v., được san hành ban tặng).”
  2. Điện Huệ Nam (惠南殿): tên gọi ngày xưa của Điện Hòn Chén, tọa lạc trên núi Ngọc Trản (玉盞山), thuộc làng Ngọc Hồ, phường Hương Hồ, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Xưa kia, núi Ngọc Trản có tên là Hương Uyển Sơn, sau được đổi thành Ngọc Trản (玉盞, chén ngọc); dân gian vẫn quen gọi là Hòn Chén, vì nó có liên quan đến giai thoại về vua Minh Mạng (明命, tại vị 1820-1841) đánh rơi chén ngọc. Tương truyền, trong một lần lên đây nhà vua đã đánh rơi một chén ngọc xuống dòng sông Hương, tưởng không cách gì lấy lại được thì bỗng nhiên một con rùa to bằng chiếc chiếu nổi lên ngậm chén ngọc trả lại cho vua. Tuy nhiên, trong các văn bằng sắc phong chính thức của các vua Nguyễn, ngôi điện vẫn xuất hiện với tên chính thức “Ngọc Trản Sơn Từ (玉盞山祠, đền thờ trên núi Ngọc Trản).” Đến thời vua Đồng Khánh, ngôi điện được đổi tên là Huệ Nam Điện với ý là mang lại ân huệ cho vua nước Nam và cũng gắn với nhiều giai thoại khác nữa. Dưới triều các vua nhà Nguyễn, thời Gia Long (嘉隆, tại vị 1802-1820), Minh Mạng đều nhiều lần cho tu sửa, mở mang ngôi điện. Đặc biệt, từ năm 1883 đến 1885, trong giai đoạn mong chờ được kế vị, vua Đồng Khánh (同慶, tại vị 1885-1889) đã từng nhờ mẹ là bà Kiên Thái Vương lên đền Ngọc Trản cầu đảo và xin Thánh Mẫu Thiên Y A Na (天依阿那) chỉ dẫn cho. Khi lên ngôi, vua Đồng Khánh liền cho xây lại đền này khang trang, làm thêm nhiều đồ tự khí để thờ và đổi tên ngôi đền là Huệ Nam Điện với ý là mang lại ân huệ cho vua nước Nam. Vua Đồng Khánh đưa cuộc lễ hàng năm ở đây vào hàng quốc lễ và tự nhận mình là đồ đệ của Thánh Mẫu. Nay trong điện vẫn còn thờ một vài bức tranh ảnh của chính nhà vua. Điện Hòn Chén ngày nay được nhiều người biết đến không phải vì nó là một di tích tôn giáo mà chủ yếu vì phong cảnh nơi đây. Công trình kiến trúc tôn giáo này được người xưa đặt trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, sơn thủy hữu tình. Điện Hòn Chén có khoảng 10 công trình kiến trúc xinh xắn đều nằm ở lưng chừng sườn Đông Nam thoai thoải của ngọn núi, ẩn mình dưới những gốc cổ thụ, tỏa bóng mát quanh năm, như Minh Kính Ðài, Cư Trinh Cát Viện, Chùa Thánh, Dinh Ngũ Vị Thánh Bà, Am Ngoại Cảnh, v.v.; những hệ thống bậc chạy từ cao xuống tận bến nước. Mặt nước trong xanh phẳng lặng như gương in bóng cổ đền. Du thuyền cập bến ngước nhìn lên, khách dễ tưởng mình đang lạc vào chốn thần tiên. Qua bao nhiêu năm tháng gắn với bao truyền thuyết, dân gian vẫn gọi điện là Điện Hòn Chén hay Điện Hoàn Chén đều không sai. Ngôi đền nầy thờ Thánh Mẫu Thiên Y A Na từ thế kỷ 16; hàng năm cử hành lễ hội vào hai kỳ: tháng Ba và tháng Bảy. Điện Hòn Chén là ngôi điện duy nhất có một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân xứ Huế, đặc biệt có sự kết hợp giữa nghi thức cung đình và tín ngưỡng dân gian; giữa lễ hội và đồng bóng; giữa văn hóa tâm linh và mê tín dị đoan. Đây cũng là nơi trang trí mỹ thuật đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19. Thi sĩ Nguyễn Văn Siêu (阮文超, 1799-1872) có làm bài thơ Nhật Ngọ Để Ngọc Trản Sơn Hạ (日午抵玉盞山下) diễn tả về ngôi điện thâm nghiêm nầy rằng: “Cận y Ngọc Trản vọng Bồng Lai, thủy chiết giang tâm mạn tố hồi, thụ sắc cương quang hồng nhật lí, phi cầm tranh táo lục long lai (近依玉盞望蓬萊、水折江心漫泝洄、樹色崗光紅日裡、飛禽爭噪六龍, đến gần Hòn Chén ngắm Bồng Lai, nước rẽ lòng sông lại ngược trôi, sắc cây tỏa sáng trời ửng nắng, chim chóc hò reo vua đến đây).” (Theo nguồn http://vi.wikipedia.org/wiki/Điện_Hòn_Chén, http://www.huexuavanay.com/vi/di-tich-hue/di-tich-ngoai-kinh-thanh/110-dien-hon-chen.html)
  3. Tức Quảng Hàn Cung (廣寒宮): trong tác phẩm Long Thành Lục (城錄), phần Minh Hoàng Mộng Du Quảng Hàn Cung (明皇夢游廣寒宮), của Liễu Tông Nguyên (柳宗元, 773-819) nhà Đường cho biết rằng tương truyền vào ngày Rằm tháng 8, khi vua Huyền Tông (玄宗, tại vị 712-756) nhà Đường ngao du trên mặt trăng, chợt thấy một cung phủ lớn, có tấm bảng ghi là: “quảng hàn thanh hư chi phủ (廣寒清虛之府, phủ lạnh lẽo trống không).” Về sau, người ta gọi cung tiên trên mặt trăng là Quảng Hàn Cung. Như trong bài thơ Túc Thủy Đình (宿水亭) của Bảo Dung (鮑溶, ?-?) nhà Đường có câu: “Dạ thâm tinh nguyệt bạn Phù Dung, như tại Quảng Hàn Cung lí túc (夜深星月伴芙蓉、如在廣寒宮裏宿, trăng sao đêm nữa bạn hoa sen, như ở Cung Quảng Hàn tá túc).” Hay trong tác phẩm Liêu Trai Chí Dị (聊齋志异), chương Bạch Vu Ngọc (白于玉), của Bồ Tùng Linh (蒲松齡, 1640-1715) nhà Thanh, lại có đoạn: “Đồng đạo nhập Quảng Hàn Cung, nội dĩ thủy tinh vi giai, hành nhân như tại kính trung (童導入廣寒宮、內以水晶爲階、行人如在鏡中, đồng đạo vào Cung Quảng Hàn, bên trong lấy thủy tinh làm bực thềm, người đi như ở trong kính).” Hoặc trong Thiền Tông Tạp Hải Độc (禪宗雜毒海, Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1278) quyển 8, phần Sơn Cư (山居), lại có bài thơ rằng: “Thảo đường thu tợ Quảng Hàn Cung, kim sắc hoa khai bích ngọc tùng, tọa cửu bất tri phàm cốt hoán, thiên hương thanh tán nguyệt minh trung (草堂秋似廣寒宮、金色花開碧玉叢、坐久不知凡骨換、天香清散月明中, nhà tranh thu tựa Quảng Hàn Cung, hoa nở sắc vàng ngọc biếc tùng, chẳng biết ngồi lâu phàm cốt đổi, hương trời tỏa ngát trăng sáng trong).”
  4. Nghê vân (猊雲): hay vân nghê (雲霓、雲蜺), tức cầu vồng. Xem chú thích vân nghê số 3 trong lòng văn Thủy Sám Hoàn Quyển Sám Linh Điệp bên trên.
  5. Linh tiêu (靈霄): có 3 nghĩa. (1) Chỉ tiên cảnh. Như trong thư tịch Chơn Cáo (真誥), Vận Tượng Thiên (運象篇) của phái Thượng Thanh (上清派) thuộc Đạo Giáo, do Đào Hoằng Cảnh (陶弘景, 456-536) nhà Lương thời Nam Triều biên tập, có câu: “Lương đức phi hà chiếu, toại cảm linh tiêu nhân (良德飛霞照、遂感靈霄人, đức cả ráng chiều tỏ, bèn cảm người cõi tiên).” (2) Chỉ trời cao. (3) Tên cung điện của Ngọc Đế trong truyền thuyết thần thoại. Như trong hồi thứ 80 của Thuyết Nhạc Toàn Truyện (說岳全傳) có đoạn: “Nhất nhật, giá tọa Linh Tiêu bảo điện, lưỡng bàng liệt trước tứ đại thiên sư, văn võ thánh chúng (一日、駕坐靈宵寶殿、兩傍列着四大天師、文武聖眾, một hôm, đức vua ngồi tại điện báu Linh Tiêu, hai bên có bốn đại thiên sư, văn võ thánh chúng).”
  6. Thiên Y A Na (天依阿那): còn gọi là bà Chúa Ngọc, người Chiêm Thành gọi là nữ thần Poh Nagar (hay Pô Ino Nogar), tuy chỉ là một vị thần theo truyền thuyết, nhưng đã được cư dân Việt và Chăm tín phụng, và được nhà Nguyễn xếp vào bậc thượng đẳng thần. Có nhiều truyền thuyết về vị nữ thần nầy. Theo người Chăm, nữ thần Poh Nagar do bọt nước biển và ánh mây trời sinh ra ngoài biển khơi. Một hôm, nước biển dâng cao đưa bà vào bến sông Yjatran ở Kauthara (Cù Huân). Sấm trời và gió hương liền nổi dậy báo cho muôn loài biết tin bà giáng thế. Tức thì, nước trên nguồn dồn lại thành sông chảy xuống đón mừng, và núi cũng hạ mình thấp xuống để đón rước bà. Tương truyền khi bà bước lên bờ, thì cây cong xuống để tỏ lòng thần phục, chim muông kéo đến chầu hai bên đường, và hoa cỏ cũng xinh tươi rực rỡ hơn để điểm hương cho mỗi bước chân bà đi. Rồi nữ thần Poh Nagar dùng phép hóa ra cung điện nguy nga, hóa ra trầm hương cùng lúa bắp, v.v. Bà có nhiều phép thuật và cũng rất nhiều chồng. Nơi hậu cung của bà, có đến 97 ông. Nhưng trong số đó, chỉ ông Pô Yan Amo là có uy quyền hơn cả. Với số lượng ông chồng như vậy, nhưng bà chỉ sinh được 38 người con gái. Những người con ấy, sau đều thành thần, trong số có ba người được bà truyền nhiều quyền phép, đó là Pô Nogar Dara, Rarai Anaih (cả hai được người dân vùng Phan Rang tôn thờ) và Pô Bia Tikuk (được người dân Phan Thiết tôn thờ). Theo người Việt, xưa kia tại núi Đại An (nay là Đại Điền), có hai vợ chồng tiều phu già không con, trồng rẫy dưa. Khi dưa chín, thường bị hái trộm. Một đêm nọ, lão tiều phu rình xem và bắt được thủ phạm. Khi biết được người hái dưa là một cô gái nhỏ xinh đẹp nhưng mồ côi, ông liền mang về nuôi. Không ngờ, cô gái ấy vốn là tiên nữ, nhưng vì lý do nào đó, phải giáng trần. Một hôm, mưa lụt lớn, cảnh vật tiêu điều, khiến tiên nữ thêm nhớ cảnh tiên xưa. Cho nên, cô lấy đá và hoa lá tạo thành một hòn giả sơn. Cho rằng việc làm đó không thích hợp đối với một phụ nữ, nên người cha nuôi có nặng lời quở mắng. Vì vậy, nhân thấy một khúc Kì Nam đang trôi dạt, cô bèn biến thân vào khúc cây ấy, để xuôi ra biển cả rồi tấp vào bờ biển nước Trung Hoa. Mùi hương từ khúc Kì Nam lan tỏa khắp nơi, khiến nhiều người đến xem, nhưng không một ai nhấc lên nổi. Thái tử nước ấy, nghe tin đồn tìm đến, rồi nhẹ nhàng vác khúc gỗ kia mang về cung. Đêm nọ, Thái tử thấy có bóng người lạ ẩn hiện từ khúc cây Kì Nam. Rình rập mấy đêm, chàng bắt được. Nghe cô gái xinh đẹp tự xưng mình là Thiên Y A Na và khi nghe chuyện của nàng xong; ngay hôm sau, Thái tử đã tâu với vua cha cho phép cưới nàng làm vợ. Sống với Thái Tử, Thiên Y A Na sinh được một trai đặt tên là Tri và một gái đặt tên là Quí. Một hôm, Thiên Y A Na nhớ cảnh cũ người xưa, bèn dắt hai con nhập vào khúc Kì Nam, vượt biển trở về cố quốc. Khi biết cha mẹ nuôi đã mất, bà cho xây đắp mồ mả, cho sửa sang lại nhà cửa để có chỗ thờ phụng hai ông bà. Thấy dân chúng ở Đại An hãy còn thật thà, chất phác; bà liền đem những gì học được ở quê chồng, như phép tắc, lễ nghi ra chỉ dạy và dạy cả những việc như cày cấy, kéo sợi dệt vải, v.v., để người dân quê mình biết cách mưu sinh. Ít lâu sau, một con chim hạc từ trên mây cao bay xuống, rước bà và hai con về cõi tiên. Nhớ ơn đức, nhân dân địa phương cùng nhau xây tháp, tạc tượng phụng thờ. Khi đến Đại An, không tin Thiên Y A Na và hai con đã rời bỏ cõi tục, bộ hạ của Thái Tử đã tra khảo người dân rất dữ, vì ngỡ họ cố tình che giấu mẹ con bà. Bị oan ức và đau đớn, nhiều người dân đã thắp hương cúng vái bà. Liền đó, một trận cuồng phong nổi dậy, cát chạy đá bay, và toàn bộ những người đến từ phương Bắc đều bị cát vùi thây, thuyền bè của họ cũng bị đá đánh chìm hết. Theo lời người xưa truyền lại, thì những cụm đá ở trước cửa tháp Bà (tức tháp Po Nagar ở Nha Trang), giữa cửa sông Cù, là những viên đá đã đánh đắm cả đoàn thuyền vừa kể. Sự tích này đã được Kinh Lược Phan Thanh Giản (潘清簡, 1796-1867) chép lại thành bài kí, khắc lên bia đá, dựng sau tháp Bà ở Nha Trang vào năm Tự Đức thứ 9 (1856). (Theo nguồn wikipedia.org/wiki/Thiên_Y_A_Na) Xưng hiệu đầy đủ của bà là Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Ứng Diệu Thông Mặc Tướng Trang Nghiêm Ngọc Trản Thiên Y A Na Diễn Vương Phi Thượng Đẳng Thần (弘惠普濟靈應妙通默相莊嚴玉盞天依阿那演王妃上等神).
  7. Tam Đăng (三登): có hai nghĩa chính. (1) Chỉ khoảng thời gian 27 năm liên tục mùa màng tươi tốt, cũng chỉ cho thiên hạ thái bình. (2) Chỉ cho ngũ cốc một năm ba lần chín thục.
  8. Kim âu (金甌): có hai nghĩa chính. (1) Cái bồn, cái chậu bằng vàng. (2) Tỷ dụ cho sự bền vững của biên cương đất nước, từ đó cũng được dùng chỉ cho đất nước. Như trong bài từ Chá Cô Thiên (鷓鴣天) của Thu Cấn (秋瑾, 1875-1907) nhà Thanh có câu: “Kim âu dĩ khuyết tổng tu bổ, vị quốc hi sinh cảm tích thân (金甌已缺總須補爲國犧牲敢惜身, nước non đã khuyết nên tu sửa, vị quốc hy sinh đâu tiếc thân).” Hay trong bài thơ Nam Bắc Sử Cảm Ngộ (南北史感遇) của Tư Không Đồ (司空圖, 837-908) nhà Đường cũng có câu: “Binh vi Lương điện kim âu phá, hỏa phát Trần cung ngọc thọ tồi (兵圍梁殿金甌破火發陳宮玉樹摧, binh vây Lương điện nước nhà nát, lửa phát Trần cung cây ngọc tan).”